Lặng lẽ nhìn hàng chữ của nhũ mẫu trong thư, ánh mắt ngẩn ngơ, trước mắt như hiện lên bóng dáng cô độc của trưởng tỷ đang quỳ gối trên bồ đoàn*, dáng vẻ tiều tụy mà kiên cường.
(*Bồ đoàn (蒲团) là tấm đệm tròn thường được dùng để ngồi thiền hoặc quỳ lễ trong Phật đường, từ đường, hoặc các nơi thờ cúng.)
Tiểu binh đứng bên đợi đã lâu, mãi đến khi phó tướng ngoài trướng thúc giục, người nọ mới gọi ta một tiếng, kéo ta về với thực tại.
Ta cất kỹ bức thư của nhũ mẫu, nén đau đớn nơi vết thương cũ bị đao cứa tận xương, theo phó tướng đến doanh trướng, bàn bạc xem trận chiến kế tiếp nên đánh như thế nào.
Chỉ là... hôm nay chẳng hiểu sao lại đa sầu đa cảm đến thế. Nhìn vẻ mặt hào hùng, ý chí bừng bừng của các tướng sĩ trong doanh, ta lại mơ hồ nhớ về cảnh tượng ngày đầu đặt chân đến biên cương.
Khi ấy, ta cưỡi tuấn mã Cô Tinh, một thân y phục trắng, vượt qua trăm dặm bụi đường đến nơi biên ải xa xôi, những gì đập vào mắt chẳng khác nào địa ngục trần gian.
Trên mặt người sống không còn chút sinh khí, khắp nơi đều là t.h.i t.h.ể ngổn ngang, m.á.u loang khắp đất, thành trì phủ mùi hôi thối tanh tưởi.
Khi ấy ta mới mười bốn tuổi, ta ngẩng đầu nhìn áng mây đen che phủ bầu trời, chẳng do dự thay lên bộ quân phục cũ kỹ của binh lính, không một lời, kiên quyết bước vào quân doanh, trở thành một tiểu binh vô danh.
Trưởng tỷ từng nói, ta trời sinh đã có thiên tư về binh pháp và võ học — lời ấy quả thực không sai.
Năm sau đó, ta thăng chức liên tiếp.
Đến sinh nhật mười lăm tuổi, ta chỉ huy năm trăm binh, đánh úp đội quân vận lương gồm năm nghìn tinh binh của địch, đoạt lấy lương thảo, phân phát cho tướng sĩ, giúp họ có sức tiếp tục chiến đấu.
Tân tướng quân khi ấy nhận ra thân phận của ta.
Ông ta giao lại tàn dư Hàn gia quân năm xưa cho ta chỉ huy, nhưng chỉ cấp ba tháng lương thảo, cùng số binh khí cũ kỹ, hư tổn.
Ông ta vốn là đối thủ của phụ thân ta, muốn mượn tay ta hủy hoại hoàn toàn thanh danh Hàn gia quân, cũng là để đẩy ta vào chỗ chết.
Đáng tiếc, tính toán của ông ta lại thất bại.
Ta mang theo đội quân Hàn gia còn sót lại, dọc theo biên giới mà chinh chiến khắp nơi.
Hàn gia quân vốn cận kề diệt vong, dưới tay ta từng bước lớn mạnh, còn bản thân ta, chức quan và danh tiếng cũng tăng tiến như gió thổi mây bay.
Giờ đây đã chín năm trôi qua.
Ta - hai mươi ba tuổi, đã thu phục mười hai tòa thành, phá tan liên minh Tây Viên và Bắc Triệu, được triều đình phong hàm Trấn quốc đại tướng quân, tước vị Dũng Nghị hầu, lưu truyền thế tập.
Hoàng đế nể mặt ta, ban thưởng không tiếc tay, từng đợt từng đợt đưa về tướng quân phủ trong kinh thành.
Hoàng hậu nương nương đích thân đưa thế tử Thừa Ân hầu tới, cúi đầu tạ tội với trưởng tỷ ta.
Ta biết rõ trưởng tỷ không muốn gặp bọn họ, nhưng vì sợ ta bị liên lụy, tỷ ấy đành nhẫn nhịn, sau chín năm mới chịu mở cửa phòng, ra đối mặt với những kẻ từng giày vò, sỉ nhục mình không biết bao nhiêu lần.
Mọi người ngoài mặt cười nói hòa thuận, giả vờ coi như chuyện cũ chỉ là vài lần va chạm nhỏ nhặt.
Nhưng ngay hôm sau, trưởng tỷ phát bệnh nặng.
Ta lại vừa thắng thêm một trận, trong lòng chỉ mong mau chóng trở về thăm tỷ, nỗi nhớ đã dâng đến ngưỡng.
Đúng lúc đó, hoàng đế hạ chỉ cho ta hồi triều.
Ta dẫn ba vạn kỵ binh thiết giáp, thẳng đường quay về.
Khi vào điện diện thánh, ta trình bày đủ chuyện nơi biên ải, từ thế trận phòng thủ của nước láng giềng cho đến tình hình lương thảo, binh khí. Biết hoàng đế là người thích mở mang bờ cõi, ta thuận thế vẽ ra một bản đồ chiến sự rộng lớn, chi tiết từng nơi nên đánh, từng lúc nên tiến.
Hoàng đế nghe xong mừng rỡ, đích thân đỡ ta đứng dậy, còn mời ta ngồi cạnh.
Mỗi lần ta nói đến một điểm then chốt, ông ta liền khen ngợi không ngớt lời. Có đoạn quá hăng, đến mức giọng khàn đặc, đập tay lên bàn, lớn tiếng tán thưởng.
Hoàng hậu cũng muốn đến góp mặt, mong mượn cơ hội đứng trước mặt ta – một người đang được sủng ái tin cậy – để gỡ gạc chút thể diện cho phụ thân mình và đứa con trai vô dụng của hắn.